Đề tài NCKH cấp Nhà nước “Cơ sở khoa học về vấn đề khai thác chung trong luật biển quốc tế và thực tiễn Việt Nam” (KC.09.10/06-10)

0
389

1. Tên đề tài, mã số: Cơ sở khoa học về vấn đề khai thác chung trong luật biển quốc tế và thực tiễn Việt Nam(Mã số: KC.09.10/06-10)

Thuộc: Chương trình KHCN trọng điểm cấp nhà nước – KHCN biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế – xã hội, mã số: KC.09/06-10.

2. Cơ quan chủ trì: Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế

3. Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Bá Diến

4. Thời gian thực hiện đề tài (theo hợp đồng): tháng 4/2007- tháng 10/2009

5. Kết quả nghiệm thu: Xuất sắc

 

II. Tổ chức phối hợp thực hiện

– Hội trầm tích Việt Nam;

– Viện Nghiên cứu hải sản (Bộ Thủy sản – nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn);

– Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản (Bộ Thủy sản – nay là Bộ NNPTNT

III. Tiến độ và kết quả thực hiện

3.1. Thực hiện tiến độ của đề tài so với hợp đồng

Căn cứ các Quyết định của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc phê duyệt tổ chức, cá nhân trúng tuyển chủ trì thực hiện Đề tài, phê duyệt nội dung và kinh phí các đề tài đã trúng tuyển thuộc Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006-2010, Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế đã ký Hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số 10/2006/HĐ-ĐTCT-KC.09.10/06-10 ngày 20 tháng 4 năm 2007 với đại diện Văn phòng Chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ) và Ban chủ nhiệm Chương trình KHCN Biển KC.09/06-10 (sau đây viết tắt là Hợp đồng KHCN); với thời hạn thực hiện Đề tài là 30 tháng, từ tháng 4/2007 đến tháng 10/2009.

Đến thời điểm kết thúc (tháng 10/2009), Đề tài đã hoàn thành những công việc chính sau đây:

– Hoàn thành tất cả các chuyên đề khoa học thuộc 04 Nhánh nội dung chính.

– Xây dựng Ngân hàng tài liệu, tư liệu tham khảo trong và ngoài nước; trong đó có sản phẩm dịch một số tư liệu cần thiết từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.

– Hoạt động hợp tác quốc tế: Tổ chức thành công Đoàn ra (đi khảo sát kinh nghiệm thực tế tại Nhật Bản) và tổ chức lấy ý kiến chuyên gia nước ngoài (Canada) theo kế hoạch Đoàn vào.

– Tổ chức các hội thảo khoa học.

– Thực hiện kế hoạch khảo sát ý kiến chuyên gia (theo phương pháp điều tra xã hội học)

– Công bố 12 bài báo trong các tạp chí trong nước, 01 bài báo đăng tại tạp chí khoa học nước ngoài (Nhật Bản).

– Biên soạn và xuất bản 01 cuốn sách chuyên khảo trong khuôn khổ kết quả nghiên cứu được phép công bố.

– Tham gia đào tạo 13 sinh viên viết khóa luận tốt nghiệp; 04 học viên cao học viết luận văn tốt nghiệp, 06 nghiên cứu sinh chuyên ngành luật quốc tế tham gia thực đề tài.

Việc triển khai thực hiện Đề tài đảm bảo đúng số lượng, chất lượng và tiến độ; bám sát các nội dung, yêu cầu trong Thuyết minh và Hợp đồng KHCN với cơ quan chủ quản.

3.2. Nhận xét, đánh giá chung về kết quả thực hiện đề tài

3.2.1. Kết quả khoa học

Đề tài nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và hệ thống những vấn đề lý luận, thực tiễn về KTC trên thế giới và ở khu vực biển Đông; luận giải rõ các cơ sở khoa học của hoạt động KTC ở các vùng biển; trên cơ sở đó đưa ra các luận cứ khoa học, đề xuất các kiến nghị, giải pháp thiết thực, hiệu quả về đàm phán, ký kết, thực thi các thoả thuận KTC cũng như giải pháp bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia của Việt Nam trong hoạt động hợp tác KTC với các quốc gia khác ở khu vực biển Đông.

* Những điểm mới và đóng góp về mặt khoa học của đề tài:

– Luận giải và đưa ra khái niệm và cách hiểu mới về “KTC”, về “mô hình KTC”, có điểm khác biệt so với các khái niệm đã được xây dựng trước đó về cách tiếp cận và phạm vi nội hàm khái niệm.

– Xây dựng hệ thống các luận cứ về cơ sở khoa học của vấn đề hợp tác KTC trên các vùng biển. Đây là nội dung so với tất cả các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài trước đó. Đề tài đã luận giải chi tiết hệ thống các luận cứ khoa học này trên cơ sở tổng kết và phát triển lý luận, thực tiễn hợp tác KTC trong nước và trên thế giới ở các khía cạnh khoa học tự nhiên, kinh tế – xã hội, chính trị, đặc biệt là lĩnh vực khoa học pháp lý.    

– Triển khai các nội dung nghiên cứu một cách hệ thống và khá toàn diện về kinh nghiệm từ các thỏa thuận KTC điển hình trên thế giới, so sánh các mô hình KTC và có liên hệ tới việc tham khảo vận dụng vào điều kiện cụ thể của khu vực biển Đông.

– Phân tích và đề xuất các giải pháp – nhìn từ khía cạnh nghiên cứu khoa học – đối với các thoả thuận KTC đã và cần được xúc tiến giữa Việt Nam và các nước ở biển Đông; đưa ra các phương hướng, giải pháp kiến nghị cụ thể đối với từng khu vực mà Việt Nam có triển vọng hợp tác KTC trong tương lai; đồng thời xây dựng mô hình lý luận tổng quát cho các thoả thuận hợp tác KTC giữa Việt Nam và các nước.

Những nội dung mới này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bổ sung và làm phong phú thêm hệ thống cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn về hợp tác KTC ở các vùng biển. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của Đề tài có giá trị tham khảo trực tiếp cho các cơ quan, tổ chức hữu quan tham gia công tác nghiên cứu, xây dựng chính sách, pháp luật và/hoặc đàm phán, ký kết, thực thi các thoả thuận hợp tác KTC của Việt Nam với các nước ở biển Đông.  

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của Đề tài cùng với các báo cáo khoa học tổng hợp từ các nhánh nghiên cứu chính, hàng trăm chuyên đề nghiên cứu cụ thể, hệ thống tư liệu tham khảo phong phú đa dạng, các báo cáo khoa học, kết quả thu được từ các hội thảo khoa học, các bài viết đã được công bố, đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành và một số tài liệu tham khảo khác đã tạo thành một bộ sản phẩm khoa học đầy đủ và có giá trị về vấn đề hợp tác KTC.

* Ứng dụng trong thực tiễn công tác lập pháp và quản lý nhà nước

Với việc đưa ra các phương hướng, giải pháp cụ thể đối với từng khu vực mà Việt Nam có triển vọng hợp tác KTC trong tương lai, xây dựng mô hình lý luận tổng quát cho các thỏa thuận KTC giữa Việt Nam với các nước trên biển Đông, Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đưa ra được những giải pháp, phương án cụ thể làm cơ sở khoa học cho việc hợp tác KTC của Việt Nam và có thể được ứng dụng trực tiếp trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức hữu quan tham gia công tác nghiên cứu, xây dựng chính sách, pháp luật và/hoặc đàm phán, ký kết, thực thi các thoả thuận hợp tác KTC của Việt Nam với các nước ở biển Đông. Những kiến nghị của Đề tài góp phần làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, chiến lược tiến ra biển và làm chủ biển của Việt Nam.

* Kết quả đào tạo

Chủ nhiệm đề tài có nhiều hoạt động nhằm thu hút sự tham gia của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành luật quốc tế của Đại học Quốc gia Hà Nội. Các hoạt động chính là viết báo cáo chuyên đề, tham gia hội thảo khoa học, góp ý kiến theo phương thức điều tra xã hội học…Trong thời gian thực hiện Đề tài, chủ nhiệm đề tài đã hướng dẫn sinh viên, học viên cao học thực hiện 13 khoá luận tốt nghiệp, 04 luận văn cao học về đề tài KTC; đặc biệt có 06 nghiên cứu sinh chuyên ngành luật quốc tế (trong đó 02 NCS đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ) tham gia thực hiện một số nội dung hoạt động, góp phần nâng cao kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học có liên quan đến lĩnh vực và nội dung nghiên cứu của Đề tài. Kết quả nêu trên đã đóng góp đáng kể vào việc nâng cao trình độ và kiến thức cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên và sinh viên chuyên ngành Luật quốc tế của ĐHQGHN và một số cơ sở nghiên cứu, đào tạo khác của Việt Nam, đặc biệt về lĩnh vực luật biển và vấn đề giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực biển.

3.2.2. Kết quả nâng cao tiềm lực khoa học cho đơn vị

Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và toàn diện, mang tính đa ngành và liên ngành về khoa học tự nhiên – kinh tế xã hội – chính trị ngoại giao và pháp lý. Trong quá trình nghiên cứu, Chủ nhiệm đề tài đã tập hợp được sự tham gia của nhiều cán bộ giảng dạy – nghiên cứu có kinh nghiệm của Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội và các cơ sở nghiên cứu khác cũng như các chuyên gia quản lý và hoạt động chuyên môn ở một số đơn vị có vị trí vai trò liên hệ khá chặt chẽ với lĩnh vực nghiên cứu của Đề tài. Các hoạt động và kết quả của đề tài có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao trình độ nhận thức khoa học, làm phong phú thêm kiến thức của cán bộ, chuyên gia, giảng viên, sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh.